Lễ Giáng sinh, trông người mà ngẫm đến ta

Giáng sinh vốn là ngày lễ lớn nhất của các tín hữu Ki tô giáo, nhưng nay dần trở thành ngày hội lớn của mọi người. Ở Việt Nam cũng vậy. Nhưng cách đón nhận mỗi nơi mỗi khác. 

Trong nhà và ngoài đường

Người phương Tây rất hào hứng khi chuẩn bị cho lễ Noel. Thường là các bạn dành dụm thời gian cùng gia đình trang trí cây thông, đi chợ mua đồ cho đêm Giáng sinh. Nhưng, người Việt chúng ta thì đi đến siêu thị chìa tiền ra và bê về cây thông đã trang trí sẵn phủ đầy dây tráng kim với đèn nhấp nháy, vai khoác bánh kẹo, hạt dưa,... Cũng chả khác gì các cụ ngày xưa cứ chiều ba mươi tết thì đánh cá ao, làm thịt lợn rồi gói bánh chưng, đêm ngồi quanh bếp củi lửa nấu sôi sình sình chờ lúc giao thừa; thì bây giờ, người ta ra siêu thị chỉ một tiếng đồng hồ là sắm đủ đồ tết.

Đêm Noel, người phương Tây hầu như ở nhà. Đường phố vắng hoe hoắt, ai ai cũng ở trong nhà cùng với gia đình mình. Họ chỉ có khái niệm đi lễ Noel thành kính trước tượng chúa Hài đồng, Đức mẹ Maria, Thánh Giuse, những con cừu nhỏ, máng cỏ và hang đá nhân tạo,… lấp lánh trong ánh sáng màu hồng rực rỡ và tiếng nhạc lời ca ấm áp linh thiêng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời/ Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương…”, chứ ít có chuyện đi chơi đêm Noel. Nhưng, một bộ phận người Việt thì... trên từng cây số, khắp mọi nẻo đường. Đêm Noel nào cũng tắc đường. Nhà thờ lớn Hà Nội và Nhà thờ lớn Sài Gòn đông đúc, chen chúc, người ta đi chơi vui vẻ, đi xem nhiều hơn là đi lễ. Cái sự vui vầy này lâu dần trở thành nếp sống cũng khá thú vị và trở thành nhu cầu thật sự trong đời sống.

Lúc nửa đêm Giáng sinh, người phương Tây quây quần cùng gia đình ăn bữa tiệc "reveillon" gồm cá chép, ngỗng, thịt lợn tích hợp của biểu tượng: thủy - khí - mộc, rồi lắng nghe giai điệu chầm chậm của bài hát “Đêm thánh vô cùng”: “Ðêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng. Ðất với trời se chữ Ðồng. Ðêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa...”. Còn người Việt gọi nhau ngồi ở vỉa hè, con gái nhấp nhẳng món nướng, con trai vây quanh nồi lẩu bốc khói nghi ngút, hoặc sà vào bãi bia hơi khuya khoắt mỗi lần cụng ly là một lần... dô... dô...dô; chỉ ít gia đình giàu có đi nhà hàng sang trọng, lặng lẽ ngồi ăn. Một bộ phận nữa thì dạt vào bar uống rượu, nhảy đến tận sáng, ai biết dừng lại đúng lúc thì đêm Noel thú vị tưng bừng; ai quá đà thì sặc hơi men, mệt dỉu dả, hôm sau đến công sở làm việc ngáp ngắn ngáp dài. Giáng sinh với tết Nguyên đán càng mang hơi hướng văn minh công nghiệp rõ nét thì hồn vía cổ truyền càng mai một. Chẳng biết lo hay mừng?

Cũng đêm Noel, người phương Tây “hôn nhau dưới nhánh thường xuân thì sẽ yêu nhau suốt đời", và yêu nhau ở căn nhà của mình, họ muốn đứa con của mình ra đời trong thời khắc Chúa giáng sinh linh thiêng thì mình cũng đúc được đứa con của Chúa thiêng liêng. Nhưng đêm Noel ở nước Việt ta? Không hiếm các cặp trai gái dắt nhau đi đến nhà nghỉ và đến nhà nghỉ nào cũng... hết phòng! Vốn ngày thường đã không ai thống kê được bao nhiêu cô gái đáng thương cả tin dại dột mất trinh vì những tay đàn ông bợm già, thì đêm Chúa ra đời cũng chẳng ai biết sẽ có bao nhiêu giọt sống được hình thành vạ vật trong các nhà nghỉ tồi tàn, nhếch nhác cho đến hotel sang nhã. Và, sau đó bao nhiêu cái thai bị sổ ra trong các phòng sản tư nhân, trong bệnh viện? Bao nhiêu được làm người, để rồi sau này lớn lên lại náo nức đi chơi trong lạnh giá đêm Noel phải tìm hơi ấm của nhau như bố mẹ chúng ngày xưa?
 
Quà Noel

Theo truyền thuyết ngày xưa xa lăng lắc, ông già Noel cưỡi cỗ xe có bốn con tuần lộc kéo, phóng như bay trên trời, ông ghé vào các nhà có cây thông Giáng sinh, lặng lẽ leo qua ống khói, lấy món quà nhỏ xinh xắn, đặt bên đầu giường cho các em nhỏ đang ngủ mê man trong giấc mơ. Quà giáng sinh mang ý nghĩa tinh thần ở phương Tây, chỉ là cái thiệp chúc, món quà nhỏ xinh xắn: đôi dép nhỏ đính cái nơ đỏ; cái gương tròn thắt giải băng màu hồng; đôi tất trắng điểm hoa nhỏ li ti...
 
Trong khi đó, ở nước Việt Nam bây giờ quà giáng sinh đã thiên biến vạn hóa. Các chàng nàng sinh viên nghèo dù còn nợ tiền học phí thì cũng đủ lãng mạn mua bông hoa tươi tặng bạn, tặng người yêu. Người chồng tối ngày đi làm công sở thì cũng biết giật mình nhớ lại Mùa Vọng năm xưa đi trong lạnh lẽo yêu nhau, cũng biết dừng xe dọc đường mua tặng vợ một cái áo ấm, dù có thể nàng chẳng còn nhớ nữa. Tôi được ông bạn nhà văn theo Ki tô giáo tặng tấm bưu thiếp in hình cụ ông lùn cầm ly rượu, cụ bà cũng rất thấp cười tươi cầm tờ giấy khế ước tình yêu buông dài, trông rất ngộ nghĩnh; ở giữa là cây thông Noel, với dòng chữ: “Chúc mừng nhà văn một mùa Giáng sinh đầy ân sủng, sáng tạo và bình an cho gia đình”.

Tuy nhiên, quà Giáng sinh nước Việt bây giờ bị biến tướng đi rất nhiều, làm cho món quà mang ý nghĩa tinh thần lại trở thành gánh nặng vật chất đè lên vai. Mùa Giáng sinh là thời điểm người ta có dịp trả ơn, có cớ biếu xén, hối lộ để xin việc, để được thăng cấp thăng chức, để chứng tỏ lòng trung thành, cúc cung tận tụy. Sếp được nhận quà Giáng sinh của cấp dưới. Phụ huynh nô nức đến nhà cô giáo tặng quà. Chủ doanh nghiệp chạy như chong chóng mang phong bao đến các đối tác làm ăn, đến quan chức cánh hẩu... Lẽ ra quà tặng qua tay ông già Noel chỉ là món nhỏ nhoi giản dị của chúng sinh bình thường, lam lũ hoặc lãng mạn; thì bây giờ ông già Noel phải chuyển cả những món quà quý là tiền đô, vàng, nhà, đất... của kẻ hám lợi, bất chấp những đạo lý thông thường.

Một mùa Noel nữa lại đến, vừa vui vừa buồn!

Sương Nguyệt Minh

Sở thích lạ

Hom qua, mình dâng lễ với một cha bạn cùng lớp. Điều đặc biệt là trong số người dự lễ có một linh mục khác. Sau lễ, vị linh mục này nói "hôm nay, cha giảng lễ nghe dịu dàng. Không giống như mới đây con đi lễ ở một nhà thờ kia, tiếng cha xứ giảng to quá, khiếp luôn".
(Người giảng lễ là cha bạn của mình. Mình chủ tế cũng có giọng nhẹ nhàng mà không được khen.)
Ngược lại, mình mới nghe một người đàn ông trung niên nói rằng "dức cha của mình làm lễ nghe không sướng bằng cha P. Giọng của cha P rất to, nghe đã lắm".
Trong một dịp chầu lượt ở xứ kia, nhiều giáo dân, cả đàn ông cũng như đàn bà, nói với mình rằng "hôm nay cha T giảng nghe đã quá". Đó là một cha có giọng giảng rất to.
Nhiều người có sở thích lạ: thích cha làm lễ thật to tiếng, nghe mới đã. Mình tự thấy không đáp ứng được nguyện vọng này

Bệnh của giáo hội

Phamkong: Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 22-12-2014 dành cho các vị lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh, ĐTC Phanxicô liệt kê 15 thứ bệnh cần bài trừ khỏi những người phục vụ tại giáo triều Roma. ĐTC nhận xét rằng những căn bệnh và cám dỗ ấy cũng là nguy cơ của mỗi Kitô hữu, mỗi giáo xứ, cộng đoàn, dòng tu, các phong trào Giáo Hội, trên bình diện cá nhân và cộng đoàn. Vì thế Phamkong gọi là bệnh của giáo hội.

1. Trước tiên là bệnh tưởng mình là bất tử, miễn nhiễm, hoặc thậm chí là không thể thiếu được, và lơ là những kiểm điểm cần thiết và thông thường. Một giáo triều không tự phê bình, không canh tân, không tìm cách cải tiến, thì đó là một cơ thể đau yếu. Một cuộc viếng thăm bình thường tại các nghĩa trang có thể giúp chúng ta nhìn thấy tên của bao nhiêu người, của vài người mà chúng ta nghĩ họ là bất tử, miễn nhiễm, và không thể thay thế được! Đó là bệnh của người giàu có trong Phúc Âm nghĩ rằng mình sống vĩnh viễn (Xc Lc 12,13-21) và cả những người trở thành chủ nhân ông, cảm thấy mình cao trọng hơn mọi người, chứ không phải là người phục vụ tất cả mọi người. Bệnh này thường xuất phát từ bệnh quyền bính, từ mặc cảm là những người ưu tuyển, từ thái độ tự yêu mình, say mê nhìn hình ảnh của mình mà không nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa in nơi khuôn mặt của những người khác, đặc biệt là những người yếu đuối và túng thiếu nhất. Thuốc chữa bệnh dịch này là ơn thánh, ơn cảm thấy mình là người tội lỗi và thành tâm nói rằng: ”Chúng ta chỉ là những đầy tớ vô dụng. Chúng ta đã làm những gì chúng ta phải làm” (Lc 17,10).

2. Một bệnh khác là bệnh Marta, đến từ tên Marta, làm việc thái quá: tức là những người chìm đắm trong công việc, và lơ là với phần tốt hơn, là ngồi bên chân Chúa Giêsu (Xc Lc 10,38). Vì thế Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ của Ngài ”hãy nghỉ ngơi một chút” (Xc Mc 6,31), vì lơ là việc nghỉ ngơi cần thiết sẽ đi tới tình trạng căng thẳng và giao động. Thời gian nghỉ ngơi, đối với những người đã chấm dứt sứ mạng của mình, là điều cần thiết, cần phải làm, và cần phải sống thanh thản: khi trải qua một chút thời gian với những người thân trong gia đình và tôn trọng các kỳ nghỉ như những lúc bồi dưỡng tính thần và thể lý; cần học điều mà sách Qohelet đã dạy: ”Có thời gian cho mỗi điều” )3,1-15).

3. Cũng có thứ bệnh ”chai cứng” tâm trí và tinh thần: nghĩa là bệnh của những người có tâm hồn chai đá, ”cứng cổ” (Cv 7,51-6); bệnh của những người đang đi trên đường, đánh mất sự thanh thản nội tâm, mất sức sinh động và táo bạo, và ẩn nấp sau các giấy tờ, trở thành ”chiếc máy hồ sơ” chứ không còn là ”những người của Thiên Chúa” nữa (Xc Dt 3,12). Họ có nguy cơ đánh mất sự nhạy cảm nhân bản cần thiết để khóc với những người khóc và vui với những người vui! Đó là bệnh của những người mất ”tâm tình của Chúa Giêsu” (Xc Pl 2,5-11), vì con tim của họ, qua dòng thời gian, đã trở nên chai đá và không có khả năng yêu mến Chúa Cha và tha nhân vô điều kiện (Xc Mt 22,34-40). Thực vậy, là Kitô hữu có nghĩa là ”có cùng những tâm tình như Chúa Giêsu Kitô” (Pl 2,5), những tâm tình khiêm tốn, và hiến thân, không dính bén và quảng đại.

4. Bệnh kế hoạch hóa thái quá và duy hiệu năng. Khi tông đồ kế hoạch mọi sự một cách tỷ mỉ và tưởng rằng khi thực hiện việc kế hoạch hóa hoàn toàn thì mọi sự sẽ thực sự tiến triển, như thế họ trở thành một kế toán viên hay một nhà tư vấn kinh doanh. Chuẩn bị mọi sự là điều tốt và cần thiết, nhưng không bao giờ được rơi vào cám dỗ muốn đóng kín và lèo lái tự do của Chúa Thánh Linh, Đấng luôn luôn lớn hơn, quảng đại hơn mọi kế hoạch của con người (Xc Ga 3,8). Người ta lâm vào căn bệnh này vì ”ở lại thoải mái trong các lập trường tĩnh và bất biến của mình thì vẫn là điều dễ dàng và ung dung hơn. Trong thực tế, Giáo Hội tỏ ra trung thành với Chúa Thánh Linh theo mức độ Giáo Hội không chủ trương điều hành và thuần hóa Thánh Linh. Thánh Linh là sự tươi mát, sáng tạo và mới mẻ!”

5. Bệnh phối hợp kém. Khi các chi thể mất sự hiệp thông với nhau thì thân thể đánh mất hoạt động hài hòa và chừng mực của mình, trở thành một ban nhạc chỉ tạo ra những tiếng ồn ào, vì các thành phần của ban không cộng tác với nhau, không sống tinh thần hiệp thông và đồng đội. Khi chân nói với tay: ”Tôi không cần anh”, hoặc tay nói với đầu: ”Tôi điều khiển”, thì tạo nên sự khó chịu và gương mù.

6. Cũng có thứ bệnh ”suy thoái não bộ tinh thần”, hay là quên đi ”lịch sử cứu độ”, lịch sử quan hệ bản thân với Chúa, quên đi mối tình đầu (Kh 2,4). Đó là sự suy thoái dần dần các khả năng tinh thần trong một khoảng thời gian dài ngắn hơn kém, tạo nên tình trạng tật nguyền trầm trong cho con người, làm cho nó không còn khả năng thi hành một số hoạt động tự lập, sống trong tình trạng hoàn toàn tùy thuộc những quan niệm thường là tưởng tượng. Chúng ta thấy điều đó nơi những người không còn nhớ cuộc gặp gỡ của họ với Chúa, nơi những người hoàn toàn tùy thuộc hiện tại của họ, đam mê, tính thay đổi nhất thời, và những thứ kỳ quặc khác; ta thấy nơi những người kiến tạo quanh mình những bức tường và những tập quán, ngày càng trở thành nô lệ cho các thần tượng mà họ tay họ tạo nên.

7. Bệnh cạnh tranh và háo danh. Khi cái vẻ bề ngoài, những mầu áo và huy chương trở thành đối tượng ưu tiên của cuộc sống, quên đi lời thánh Phaolô: ”Anh em đừng làm gì vì cạnh tranh hoặc háo danh, nhưng mỗi người với tất cả sự khiêm tốn, hãy coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm tư lợi, nhưng hãy tìm lợi ích của người khác nữa” (Pl 2,1-4). Đó là căn bệnh đưa chúng ta trở thành những con người giả dối và sống một thứ thần bí giả hiệu, một chủ thuyết yên tĩnh giả tạo, Chính thánh Phaolô đã định nghĩa họ là ”những kẻ thù của Thập Giá Chúa Kitô” vì họ ”kiêu hãnh về những điều mà lẽ ra họ phải hổ thẹn và chỉ nghĩ đến những điều thuộc về trần thế này” (Pl 3,19)

8. Bệnh tâm thần phân liệt trong cuộc sống. Đó là bệnh của những người sống hai mặt, hậu quả của sự giả hình về sự tầm thường và dần dần trở nên trống rỗng về tinh thần mà các văn bằng tiến sĩ hoặc các bằng cấp khác không thể lấp đầy được. Một thứ bệnh thường xảy ra nơi những người bỏ việc mục vụ, và chỉ giới hạn vào những công việc bàn giấy, đánh mất sự tiếp xúc với thực tại, với những con người cụ thể. Như thế họ tạo cho mình một thế giới song song, trong đó họ gạt sang một bên tất cả những gì họ nghiêm khắc dạy người khác, và bắt đầu sống một cuộc sống kín đáo và thường là tháo thứ. Sự hoán cải là điều rất cần thiết và không thể thiếu được đối với thứ bệnh rất nặng này (Xc Lc 15,11-32).

9. Bệnh 'ngồi lê đôi mách', lẫm bẩm và nói hành. Tôi đã nói nhiều về bệnh này và không bao giờ cho đủ. Đó là một bệnh nặng, thường bắt đầu bằng những cuộc chuyện trò, và nó làm cho con người thành người gieo rắc cỏ lùng cỏ dại như Satan, và trong nhiều trường hợp họ trở thành người ”điềm nhiên giết người”, giết hại danh thơm tiếng tốt của đồng nghiệp và anh em cùng dòng. Đó là bệnh của những người hèn nhát không có can đảm nói thẳng, mà chỉ nói sau lưng. Thánh Phaolô đã cảnh giác: ”Anh em hãy làm mọi sự mà đừng lẩm bẩm, không do dự, để không có gì đáng trách và tinh tuyền” (Pl 2,14-18). Hỡi anh em, chứng ta hãy giữ mình khỏi những nạn khủng bố nói hành nói xấu!

10. Bệnh thần thánh hóa giới lãnh đạo. Đó là bệnh của những kẻ dua nịnh cấp trên, hy vọng được ân huệ của họ. Họ là nạn nhân của công danh sự nghiệp và của thái độ xu thời, tôn kính con người chứ không tôn kính Thiên Chúa (Xc Mt 23,8-12). Đó là những người khi phục vụ chỉ nghĩ đến điều mà họ phải đạt được chứ không tới điều mà họ phải làm. Những người bủn xỉn nhỏ nhặt, bất hạnh, và chỉ hành động vì ích kỷ (Xc Gl 5,16-25). Bệnh này có thể xảy ra cho cả các cấp trên khi họ chiêu dụ vài cộng tác viên để được sự tuân phục, trung thành và tùy thuộc về tâm lý, nhưng kết quả cuối cùng là một sự đồng lõa thực sự.

11. Bệnh dửng dưng đối với người khác. Khi mỗi người chỉ nghĩa đến mình và đánh mất sự thành thực và quan hệ nồng nhiệt với nhau. Khi người giỏi nhất không đặt kiến thức của mình để phục vụ đồng nghiệp yếu kém hơn. Khi người ta biết được điều gì và giữ riêng cho mình thay vì chia sẻ tích cực với những người khác, Khi vì ghen tương và tinh ranh, họ cảm thấy vui mừng khi thấy người khác ngã xuống, thay vì nâng người ấy dậy và khích lệ họ!

12. Bệnh có bộ mặt đưa đám. Tức là những người cộc cằn và hung tợn, cho rằng để tỏ ra là nghiêm minh, cần có bộ mặt âu sầu, nghiêm khắc và đối xử với những người khác, nhất là những người cấp dưới, một cách cứng nhắc, cứng cỏi và kiêu hãnh. Trong thực tế, sự nghiêm khắc đóng kịch và thái độ bi quan vô ích thường là triệu chứng của sự sợ hãi và bất an về mình. Tông đồ phải cố gắng là một người nhã nhặn, thanh thản, nhiệt thành và vui tươi, thông truyền niềm vui tại bất kỳ nơi nào. Một con tim đầy Thiên Chúa là một con tim hạnh phúc, chiếu tỏa và làm lan rộng niềm vui cho tất cả những người quanh mình, người ta nhận thấy ngay điều đó.. Chúng ta đừng đánh mất tinh thần vui tươi, tinh thần hài hước, thậm chí tự cười mình, làm cho chúng ta trở thành những người dễ mến, cả trong những hoàn cảnh khó khăn”. Một chút tinh thần hài hước thật là điều tốt cho chúng ta dường nào. Thật là điều tốt nếu chúng ta thường đọc kinh của Thánh Thomas More: tôi vẫn đọc kinh đó hằng ngày và điều này mang nhiều ích lợi cho tôi.

13. Bệnh tích trữ. Khi tông đồ tìm cách lấp đầy khoảng trống trong con tim của mình bằng cách tích trữ của cải vật chất, không phải vì cần thiết nhưng chỉ vì để cảm thấy an ninh. Trong thực tế không có gì vật chất có thể mang theo mình vì ”khăn liệm không có túi” và mọi kho tàng vật chất của chúng ta, dù có thực đi nữa, không bao giờ có thể lấp đầy khoảng trống, trái lại càng làm cho nó khẩn trương và sâu đậm hơn. Chúa lập lại với những người ấy: ”Ngươi bảo: nay tôi giầu có, đã đầy đủ của cải rồi, tôi chẳng cần gì nữa. Nhưng ngươi không biết mình là kẻ bất hạnh, khốn nạn, một kẻ nghèo, mù lòa và trần trụi.. Vậy ngươi hãy nhiệt thành và hoán cải” (Kh 3,17-19). Sự tích trữ của cải chỉ làm cho nặng nề và làm cho hành trình trở nên chậm hơn! Và tôi nghĩ đến một giai thoại: trước kia các tu sĩ dòng Tên Tây Ban Nha mô tả dòng như một đoàn ”kỵ binh nhẹ nhàng của Giáo Hội”. Tôi nhớ cuộc dọn nhà của một tu sĩ dòng Tên trẻ, trong khi chất lên xa vận tải bao nhiêu đồ đạc: hành lý, sách vở, vật dụng, quà tặng, thì một tu sĩ dòng Tên cao niên quan sát và mỏỉm cười nói: đây có phải là kỵ binh nhẹ của Giáo Hội không?”. Những cuộc dọn nhà của chúng ta là một dấu hiệu về bệnh ấy.

14. Bệnh những nhóm khép kín, trong đó sự thuộc về một nhóm nhỏ trở nên mạnh hơn thuộc về cả thân mình và trong một số trường hợp, mạnh hơn thuộc về chính Chúa Kitô. Cả căn bệnh này cũng luôn bắt đầu bằng những ý hướng tốt là tiêu khiển với các bạn bè, nhưng với thời gian nó trở nên xấu, thành bệnh ung thư đe dọa sự hài hòa của thân thể và tạo nên bao nhiêu điều ác, gương mù, nhất cho cho những anh em bé nhỏ hơn của chúng ta. Sự tự hủy diệt, hay là ”những viên đạn của bạn đồng ngũ” chính là nguy hiểm tinh tế nhất. Đó là sự ác đánh từ bên trong, và như Chúa Kitô đã nói, ”nước nào chia rẽ bên trong thì sẽ bị tàn lụi” (Lc 11,17).

15. Sau cùng là bệnh tìm kiếm lợi lộc trần tục và phô trương. Khi tông đồ biến việc phục vụ của mình thành quyền lực, và biến quyền lực của mình thành hàng hóa để kiếm được những lợi lộc phàm tục và được nhiều quyền thế hơn. Đó là bệnh của những người tìm cách gia tăng vô độ quyền lực và để đạt được mục tiêu đó, họ vu khống, mạ lỵ và làm mất thanh danh của người khác, thậm chí trên cả các nhật báo và tạp chí, dĩ nhiên để biểu dương và chứng tỏ mình có khả năng hơn người khác. Cả thứ bệnh này cũng gây hại rất nhiều cho thân mình, vì nó làm cho con người đi tới độ biện minh việc sử dụng bất kỳ phương thế nào để đạt tới mục tiêu ấy, thường là nhân danh công lý và sự minh bạch. Và ở đây tôi nhớ đến một linh mục đã gọi các ký giả đến để kể cho họ - một điều mà LM này bịa đặt - về những chuyện riêng tư của những linh mục khác và của giáo dân. LM ấy chỉ muốn được xuất hiện trên những trang nhất của báo chí, và như thế cảm thấy mình quyền năng và chiến thắng, nhưng tạo ra bao nhiêu đau khổ cho những người khác và cho Giáo Hội! Thật là kẻ đáng thương!

Có thể có ơn cứu độ nơi các tôn giáo chăng?


Sống là đi tìm sự giải thoát. Trong dòng lịch sử, loài người đã thể hiện việc tìm kiếm đó qua các tôn giáo khác nhau. Các tôn giáo tiêu biểu cho khát vọng sâu xa đó của kiếp người. Có thể nói rằng: có bao nhiêu quan niệm về cứu rỗi, thì cũng có bấy nhiêu tôn giáo. 

Vậy có thể có ơn cứu độ nơi các tôn giáo chăng?

Bài viết này sẽ trình bày những suy tư thần học về ơn cứu độ nơi các tôn giáo.
   
      Bài liên quan >> Về ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo

Ý niệm cứu độ

Cứu độ, theo nguyên ngữ Hy Lạp là sôzô, có nghĩa là được giải thoát khỏi một sự dữ có thể làm nguy hiểm đến tính mạng. Từ nghĩa thông thường đó mà người ta dùng để diễn tả kinh nghiệm tôn giáo: Thiên Chúa cứu rỗi loài người, thần minh cứu độ chúng sinh (1).

Người ta thường nghĩ cứu độ là giải thoát khỏi một thực tại tiêu cực. Tuy nhiên, sự cứu thoát này tự nó không phải là điều cốt yếu: nó chỉ là bước chuyển biến để đạt tới tình trạng viên mãn. Bởi vì, cứu độ có nghĩa là đạt tới sự viên mãn, trọn vẹn, đầy đủ, thực sự là chính mình, là hoàn thành hoá chính mình.

Nói chung, các tôn giáo quan niệm cứu độ là con người được đưa đến cùng đích của đời mình, giúp họ hoàn thành chính mình, tìm thấy thân phận của mình. Con người đang sống là một hữu thể chưa thành toàn, luôn luôn ao ước một cái gì hơn và một cái gì tốt hơn. “Theo kiểu nói của thánh Augustin, đối với một thụ tạo, Thiên Chúa là hạnh phúc, sung mãn, mục đích cuối cùng. Được thông hiệp với Ngài là được tất cả, là thiên đàng, là cứu độ. Kinh thánh dùng nhiều hình ảnh và ẩn dụ để diễn tả trạng thái được cứu độ: yến tiệc, hôn lễ, đời sống vĩnh hằng, bất tử, không còn bị huỷ hoại, ánh sáng, bình an, an toàn, toại nguyện, viên mãn, hài hoà với mọi thụ tạo, trở về nhà Cha, quê hương đích thực, hiển trị với Thiên Chúa, diện kiến Ngài, tham dự sự sống vĩnh hằng và nhiệm màu của Thiên Chúa, hiệp thông trọn vẹn với các thiên thần, anh chị em đồng loại và vũ trụ vật chất.” (2)

Để đạt được tình trạng như thế, tự sức con người không thể vươn tới được, mà phải cần sự tác động của thần linh. Theo Kitô giáo, ơn cứu độ được thực hiện trước tiên nơi con người Đức Giêsu Nazareth; nó đồng hoá với chính con người đó. Và để dự phần vào ơn cứu độ, cần phải tiến vào sự thông hiệp với Ngài. Kinh nghiệm cứu độ trực tiếp gắn liền với việc tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, là Đấng cứu độ.

Giáo lý cổ truyền: “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”

Trong bối cảnh tranh luận về giá trị của phép rửa trong các lạc giáo giữa thế kỷ thứ 3, thánh Syprien, giám mục thành Carthage, đã đưa ra câu châm ngôn trứ danh: “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” ("Extra ecclesiam nulla salus").

Thánh Augustin cũng đồng ý với Syprien. Hai vị thánh đã áp dụng thành ngữ này cho trường hợp của những người Kitô lìa bỏ Giáo hội mà theo các lạc giáo; lý do là vì họ phạm đến đức ái, nên đã mất ân sủng.

Một nhân vật khác là Fulgence, giám mục thành Ruspe, là người bảo toàn di sản của thánh Augustin, ra sức chống lại xu hướng lạc đạo. Ông đồng ý với thánh nhân cho rằng việc gia nhập Giáo hội Công giáo là điều kiện để được cứu độ. Ngoài Giáo hội có thể có phép rửa, nhưng phép rửa chỉ đem lại ơn ích bên trong Giáo hội mà thôi. Ai lãnh nhận phép rửa tội ngoài Giáo hội Công giáo là lãnh nhận một bí tích nguyên vẹn, nhưng người đó không được hưởng hiệu quả của bí tích là ơn cứu độ (3), bởi vì “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”.

Thành ngữ này thường bị tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, đã chi phối truyền thống Kitô giáo cho đến thời Trung cổ và gần như đạt được tính chất tín lý. Các giáo phụ và các nhà thần học thời Trung cổ đã phổ quát hóa và đem thành ngữ ấy áp dụng vào trường hợp người Do Thái và lương dân. Trong một thế giới toàn tòng Kitô giáo, các ngài tưởng là mọi người trong thế giới đều đã nghe biết về Tin mừng, vì thế các ngài suy luận theo nghĩa đen và áp dụng chặt chẽ những lời Chúa Giêsu: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được ơn cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Không vào Giáo hội tức là đã từ chối Lời Chúa, và vì thế không thể được cứu rỗi.

Giáo thuyết này đã được huấn quyền phê chuẩn. Công đồng Latran IV (năm 1215) tuyên bố: “Chỉ có một Giáo hội toàn cầu: ở ngoài Giáo hội này, chẳng có ơn cứu độ” (Dz 802).

Năm 1302, trong tự sắc Unam sanctam, Đức Boniface VIII đã so sánh Giáo hội với tàu Noê, và khẳng định là không ai ở ngoài Giáo hội Công giáo hoặc thuộc Giáo hội Công giáo nhưng lại không vâng phục giám mục Roma mà có thể được cứu rỗi (Dz 870, 875).

Công đồng Firenze (năm 1442) trích dẫn và phê chuẩn luận đề của Fulgence de Ruspe: “Giáo hội Công giáo Rôma xác tín, tuyên xưng, và rao giảng rằng chẳng một ai trong những người ở bên ngoài Giáo hội Công giáo – không phải chỉ những người ngoại giáo mà cả những người Do thái giáo hay lạc giáo và ly giáo nữa – được tham dự vào cuộc sống vĩnh cửu, mà trái lại sẽ đi vào lửa đời đời đã dành sẵn cho cho ác quỉ và các sứ thần của nó, nếu như ít nhất trong giây phút cuối đời không gia nhập vào Giáo hội” (Dz 1351).

Quan niệm mới: Ơn cứu độ không biên giới

Nhờ việc khám phá ra châu Mỹ (1492), người châu Âu mới biết rằng rất nhiều dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ chưa hề nghe nói đến Đức Kitô. Phần lớn trong số họ đều thuộc về một tôn giáo khác. Vì thế, vấn đề đặt ra là quan niệm thế nào về số phận của những người ngoài Kitô giáo. Không thể giữ vững lập trường kết án và loại trừ như trước đây. Bởi vì, không ai có thể bị kết án nếu không cố ý phạm tội. Đức Piô IX viết: “Phải tin chắc rằng những người không biết đạo thật, nếu là vô tri bất khả thắng, thì không thể coi họ là có tội trước mặt Chúa vì sự vô tri đó”. (4)
         
Chúng ta có thể tìm hiểu xem Kinh thánh quan niệm thế nào về vấn đề này. Trong trình thuật về biến cố dâng trẻ Giêsu vào đền thánh, Tin mừng Luca viết: “Ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân; đó là ánh sáng soi chiếu mọi nước” (Lc 2,30-31).

Thánh Phaolô quả quyết: Thiên Chúa “muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Khi nói về sự phán xét của Thiên Chúa, thánh nhân tin rằng phần thưởng được ban cho mọi người làm điều thiện sẽ giống nhau cho tất cả chứ không phân biệt gì: “Người sẽ ban vinh quang, danh dự và bình an cho tất cả những ai làm điều thiện, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp, vì Thiên Chúa không thiên vị ai” (Rm 2,10-11).

Căn cứ vào ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, công đồng Vaticanô II dạy rằng: “Nếu biết thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, biết cố gắng chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong hành động của mình theo sự hướng dẫn của tiếng lương tâm, thì cả những kẻ không biết đến Phúc âm của Đức Kitô và Giáo hội Người, nhưng lại không do lỗi mình, cũng có thể được cứu rỗi” (LG 16). Sự chu toàn thánh ý Thiên Chúa, được nói ở đây, có nghĩa là làm điều thiện và tránh điều ác, là gắn bó với sự thật, là hoà hợp giữa niềm tin và cuộc sống, là tuân theo lương tâm ngay thẳng.

Nơi khác, công đồng dạy: “Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của chân lý, chân lý chiếu soi hết mọi người” (NA 2).

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô, trong thông điệp Redemtoris Missio, đề cập đến sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần: "không phải chỉ ở trong những người thiện chí với tư cách cá nhân, mà còn ở trong xã hội và lịch sử, trong các dân tộc, các nền văn hóa, các tôn giáo - và tất cả điều đó luôn qui chiếu về Đức Kitô" (số 82).

Như thế, Thần Khí cũng có thể hoạt động ngoài các bí tích, và cả bên ngoài Giáo hội nữa. Và Thần Khí cũng có thể dùng những tôn giáo khác nhau làm khí cụ cứu rỗi cho tín đồ của mình trong mức độ chỉ một mình Ngài biết.

Vai trò của các tôn giáo trong chương trình cứu độ

Các tôn giáo có phải là những trung gian cứu độ cho các tín đồ của mình không? Các nhà thần học không nhất trí với nhau, và lập trường của họ có thể phân chia thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất, đại diện là Jean Daniélou và Henri de Lubac, chủ trương các tôn giáo chỉ là những hình thái biểu lộ việc con người đi tìm chính lộ. Nói cách khác, các tôn giáo không phải là dụng cụ cứu rỗi do Chúa thiết lập, mà chỉ là sản phẩm phát sinh từ tâm tình đạo giáo của con người. Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho tín đồ các tôn giáo, nhưng không qua trung gian các tôn giáo. Giá như các tôn giáo có vai trò gì trong chương trình cứu rỗi, thì vai trò đó chấm dứt khi Đức Kitô hoàn tất việc cứu rỗi.

Nhóm thứ hai, đại diện là Karl Rahner và Ramond Pannikkar, cho rằng các tôn giáo nằm trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Giáo lý và lễ nghi của các tôn giáo có thể ví như là những phương tiện Thiên Chúa dùng để ban ơn cứu rỗi cho các tín đồ. Các tôn giáo là những lối diễn tả có tính cách xã hội của con người với Thiên Chúa, nên có khả năng giúp tín đồ của họ tiếp nhận ân sủng. Như thế, mặc dù chúng còn chứa đựng những yếu tố bất toàn, nhưng các tôn giáo có thể có một giá trị cứu độ.

Kết luận
         
Trong chương trình của Thiên Chúa, bất cứ ai cũng có thể được cứu độ. Các tôn giáo có thể dẫn đưa con người đón nhận các phương thức cứu độ phù hợp với ý định của Thiên Chúa.
Vì thế, cần phải tránh thái độ quá khích, hay coi rẻ các tôn giáo khác. Trái lại, cần phải nhận định và đánh giá cho đúng những gì là chân thực, thánh thiện tiềm ẩn nơi các tôn giáo, cũng như phải nhận ra những dấu chỉ hoạt động của Chúa Thánh Thần, đang gieo rắc vô vàn mầm mống chân, thiện, mỹ nơi các tôn giáo.

Do đó, công cuộc truyền giáo không đồng nghĩa với việc chiêu mộ tín đồ, nhưng là nhằm làm triển nở các mầm mống đó tới mức sung mãn. Truyền giáo là làm cho các các tín đồ khác vượt qua chính mình, vượt qua các nền văn hóa và tôn giáo, để vươn lên tới Đấng Tuyệt Đối.
Lời nhận định sau đây của Benneth L. Woodward cũng đáng cho chúng ta tâm niệm: “Mẹ Teresa Calcutta, tuy là nữ tu thừa sai của Chúa Kitô, mẹ nhấn mạnh rằng Thiên Chúa muốn người Ấn giáo phải là một tín đồ Ấn giáo đạo hạnh, người Hồi giáo phải là một tín đồ Hồi giáo tốt lành, người Phật giáo phải là một phật tử hiền hòa”.
Đó phải là tinh thần của chúng ta khi sống trong một xã hội đa tôn giáo.

Lm Gioan Phạm Quang Long

Chú thích

1.     Xem Điển ngữ Thần học Thánh kinh, mục từ cứu rỗi trang 399.
2.     P. Nguyễn Thái Hợp, OP, Đường vào thần học về các tôn giáo, Dấn thân – Houston 2004, trang 106.
3.     Tham khảo Peter Neuner, Giáo hội học qua các tác giả, trang 124-125
4.     Piô IX, diễn từ Singulari Quadam ngày 9-12-1854. 

Lòng khoan dung

Truyện xưa kể lại rằng, một buổi tối một vị thiền sư già đi dạo trong thiền viện, chợt trông thấy một chiếc ghế dựng sát chân tường nơi góc khuất. Đoán ngay ra đã có chú tiểu nghịch ngợm nào đó làm trái quy định vượt tường trốn ra ngoài chơi, nhưng vị thiền sư không nói với ai, mà lặng lẽ đi đến, bỏ chiếc ghế ra rồi quỳ xuống đúng chỗ đó.
Một lúc sau, quả đúng có một chú tiểu trèo tường vào. Khi đặt chân xuống, chú tiểu mới kinh ngạc khi phát hiện ra dưới đó không phải là chiếc ghế mà là vai thầy mình, vì quá hoảng sợ nên không nói được gì, đứng im chờ nhận được những lời trách cứ và cả hình phạt nặng nề. Không ngờ vị thiền sư lại chỉ ôn tồn nói “Đêm khuya sương lạnh, con mau về thay áo đi”. Sự khoan dung của vị thiền sư già đã khiến chú tiểu suốt đời không quên được bài học đó.
Người xưa dạy: Rộng lớn nhất thế giới là đại dương, rộng lớn hơn cả đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chính là lòng người. Sự khoan dung, nếu được dùng đúng chỗ và đúng lúc thì còn có tác dụng mạnh mẽ hơn sự trừng phạt, bởi nó tác động rất mạnh đến nhận thức mỗi con người. Nhất là đối với cuộc sống, công việc và học tập của con trẻ, việc khoan dung đem lại hiệu quả vượt trội hẳn so với việc áp dụng bất kỳ hình phạt nào. Thậm chí, khoan dung với người cũng chính là khoan dung với mình, giải thoát mình khỏi những sự giận dữ, căm tức, hận thù, tranh chấp…, nhờ đó mà cân bằng được cuộc sống của mình.
sưu tầm

Trường hợp không xứng đáng để rước lễ

Đây là văn thư ĐHY Ratzinger gửi ĐYH McCarrick và được công bố tháng 7, 2004

Những Nguyên Tắc Tổng Quát

1. Quyết định lên Rước Lễ phải là một quyết định có ý thức, dựa vào một phán đoán hợp lý về tình trạng xứng đáng của mình để được làm như thế, theo những tiêu chuẩn khách quan của Hội Thánh, bằng cách tự hỏi mình những câu hỏi như: “Tôi có hoàn toàn hiệp thông với Hội Thánh không? Tôi có đang mắc tội trọng không? Tôi có đang bị vạ (như tuyệt thông, bị cấm) để tôi không được Rước Lễ không? Tôi có sửa soạn bằng cách ăn chay 1 tiếng đồng hồ không?” Việc lên Rước Lễ bừa bãi, như là kết quả của sự hiện diện trong Thánh Lễ, là một lạm dụng cần phải sửa lại (x. Chỉ dẫn “Redemptoris Sacramentum,” số 81, 83).

2. Hội Thánh dạy rằng phá thai và giết chết êm dịu là tội trọng. Thông Điệp Evangelium Vitae, khi nói về những quyết định luật pháp hay luật dân sự cho phép hoặc ủng hộ phá thai và giết chết êm dịu, nói rằng có một “nhiệm vụ trầm trọng và rõ ràng phải chống lại chúng bằng sự phản đối theo lương tâm. […] Trong trường hợp những luật lệ tự bản chất là bất công, như những luật cho phép phá thai và giết người êm dịu, đương nhiên là không bao giờ đúng luật phải tuân hành, hay “tham gia vào một cuộc vận động ủng hộ những luật như thế hoặc bỏ phiếu cho những luật như thế” (số 37). Các Kitô hữu có “trách nhiệm nặng nề về lương tâm không được chính thức cộng tác và việc thực hành những điều trái với luật của Thiên Chúa dù pháp luật dân dự cho phép. Thực sự, theo quan điểm luân lý, không khi nào hợp luật khi hợp tác với thần dữ cách chính thức. […] Sự hợp tác này không thể nào biện minh được dù là lấy cớ tôn trọng sự tự do của người khác hay dựa vào việc luật dân sự cho phép hoặc đòi hỏi phải làm việc ấy” (số 74).

3. Không phải tất cả những vấn đề luân lý có cùng một sự trầm trọng về luân lý như phá thai và giết chết êm dịu. Thí dụ, nếu một người Công Giáo không đồng ý với ĐTC về việc sử dụng án tử hình hay quyết định tiến hành chiến tranh, thì lý do đó không làm cho người ấy không xứng đáng để Rước Lễ. Trong khi Hội Thánh khuyên các nhà chức trách dân sự tìm kiếm hòa bình, chứ không phải chiến tranh, và thận trọng cùng nhân đạo trong việc áp dụng hình phạt cho các tội nhân, người ta vẫn được phép vũ trang để chống lại một kẻ tấn công hay cậy nhờ vào án tử hình. Có thể có nhiều ý kiến khác nhau trong số những người Công Giáo về việc tiến hành chiến tranh và áp dụng án tử hình, nhưng tuy nhiên không có chuyện đó đối với phá thai và giết chết êm diụ.

4. Ngoài phán đoán của cá nhân về việc mình có xứng đáng Rước Lễ hay không, thừa tác viên Thánh Thể có thể rơi vào tình trạng phải từ chối không cho một người Rước Lễ, như những trường hợp một người bị tuyên bố là truất phép thông công, bị cấm, hay cố chấp tiếp tục tỏ lộ những tội nặng (x. gl 915).

5. Về trọng tội phá thai và giết chết êm dịu, khi việc chính thức hợp tác của một người trở nên tỏ tường (được hiểu, trong trường hợp một chính trị gia Công Giáo, khi người đó luôn luôn cổ động và bỏ phiếu cho chấp thuận cho các luật phá thai hoặc giết chết êm dịu), Mục tử của người ấy nên gặp người ấy, chỉ dạy người ấy về giáo huấn của Hội Thánh, cho người ấy biết rằng người ấy không được lên Rước Lễ cho đến khi chấm dứt tình trạng cố tình phạm tội ấy, và cảnh cáo người ấy rằng nếu không người ấy sẽ không được Rước Lễ.

6. Khi “những biện pháp đề phòng này không có hiệu quả hay trường hợp không thể được,” và nhân vật được đề cập đến, tiếp tục cố chấp, vẫn lên Rước Lễ, “thừa tác viên Thánh Thể phải từ chối trao Mình Thánh cho người ấy” (x. Tuyên Ngôn của Hội Đồng Giáo Hoàng về Các Bản Văn Luật Pháp “Rước Lễ và Những người Công Giáo Ly Dị, Tái Hôn tại Tòa Đời” [2002], số 3-4). Nói đúng ra, quyết định này, không phải là sự thừa nhận hay hình phạt. Thừa tác viên Thánh Thể cũng không phán đoán về tội chủ quan của ngườ ấy, nhưng là một phản ứng về tình trạng bất xứng công khai của người ấy trong việc Rước Lễ vì một tình trạng tội lỗi khách quan.

Ghi chú. Một người Công Giáo có thể phạm tội hợp tác với thần dữ, và không xứng đáng lên Rước Lễ, nếu người ấy cố tình bỏ phiếu cho một ứng cử viên chính vì lập trường ủng hộ của ứng cử viên ấy với việc phá thai và/hay giết chết êm dịu. Khi một người Công Giáo không đồng quan điểm với ứng cử viên về vấn đề phá thai và/hay giết chết êm dịu, nhưng bầu cho ứng cử viên ấy vì những lý do khác, điều này được coi là gián tiếp cộng tác, điều này có thể được phép nếu có những lý do tương xứng.

ĐHY Ratzinger (ĐTC Bênêđictô XVI)

VietCatholic

Ngọn nến hiệp thông (với Mỹ Yên)




 
Support : CTCO | Johny | Mas
Copyright © 2014. mới tiếp - All Rights Reserved
Thiết kể bởi CTCO
Mẫu Blogger